Nguồn: Audrye Wong, “China’s Economic Statecraft Is Working,” Foreign Affairs, 28/01/2026
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Tại sao Bắc Kinh có thể thành công ngay cả với một chiến lược không hoàn hảo?
Cùng với sự khởi đầu của chính quyền Trump nhiệm kỳ hai là một sự thay đổi mạnh mẽ trong chính sách kinh tế đối ngoại của Mỹ. Washington đang áp thuế lên cả đối tác lẫn đối thủ, cắt giảm viện trợ nước ngoài, đàm phán lại các thỏa thuận thương mại một cách quyết liệt, và khước từ ngoại giao đa phương. Nói cách khác, Mỹ đang hành xử như một kẻ bắt nạt. Và khi các quốc gia trên thế giới dần trở nên cảnh giác hơn trong việc giao dịch với Mỹ, họ đang chuyển hướng ngày càng nhiều sang đối thủ kinh tế chính của Mỹ là Trung Quốc. Hoạt động thương mại đó là một trong nhiều yếu tố góp phần vào sự gia tăng xuất khẩu của Trung Quốc trong năm 2025 – dẫn đến thặng dư thương mại đạt gần 1,2 nghìn tỷ đô la, tăng 20%.
Trên thực tế, các chính sách của Washington đã mang lại lợi ích kép cho Bắc Kinh. Không chỉ các đề nghị kinh tế của Trung Quốc trở nên hấp dẫn hơn đối với các đối tác đang tìm kiếm lựa chọn thay thế cho việc hợp tác với Mỹ, mà các chiến thuật gây sức ép của Mỹ còn vô tình khiến việc Trung Quốc ép buộc các nước khác trở nên dễ chấp nhận hơn. Việc Bắc Kinh gia tăng sử dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu và nhấn chìm thị trường nước ngoài bằng hàng hóa giá rẻ vẫn gây quan ngại ở nhiều quốc gia mà họ muốn làm ăn. Tuy nhiên, hồ sơ về sách lược kinh tế của Trung Quốc không cần phải hoàn hảo mới có thể thành công. Trung Quốc đang mài giũa phương thức tiếp cận của mình đối với cuộc thương chiến với Mỹ, đồng thời sử dụng các thỏa thuận đa phương, các dự án phát triển, và tài trợ chiến lược cho các lĩnh vực then chốt để đảm bảo vị trí của các quốc gia khác trong chuỗi cung ứng của Trung Quốc. Hộ có lẽ sẽ không bao giờ kéo được hầu hết các quốc gia này hoàn toàn vào quỹ đạo của mình. Nhưng việc sử dụng cả “cây gậy và củ cà rốt” kinh tế có thể mang lại cho Bắc Kinh đủ đòn bẩy để thúc đẩy một mục tiêu quan trọng: giảm thiểu sự phản đối toàn cầu đối với các chính sách trong và ngoài nước của Trung Quốc.
TINH CHỈNH
Trong phần lớn hai thập kỷ qua, Bắc Kinh thường áp đặt các lệnh trừng phạt theo cách phi chính thức và tùy hứng. Họ tránh đưa ra các lời đe dọa công khai, và thường phủ nhận sự liên quan của nhà nước hoặc các động cơ chính trị đằng sau các biện pháp kinh tế cưỡng ép, vốn bao gồm các hạn chế thương mại được ngụy trang dưới dạng thực thi kỹ thuật và quy định an toàn thực phẩm, hoặc các cuộc tẩy chay được cho là do người tiêu dùng Trung Quốc có tinh thần dân tộc chủ nghĩa thực hiện. Nhưng trong vài năm qua, Trung Quốc đã tinh chỉnh cách tiếp cận của mình. Họ phát triển các khuôn khổ pháp lý mới và sử dụng các lệnh trừng phạt chính thức tinh vi hơn để bảo vệ lợi ích kinh tế và an ninh của mình, vay mượn các chiến thuật mà Mỹ và các đối tác đã áp dụng suốt nhiều năm. Bắc Kinh cũng không ngần ngại leo thang. Ví dụ, vào tháng 10 năm ngoái, Trung Quốc đã công bố các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đất hiếm bổ sung, yêu cầu các công ty nước ngoài phải xin phép chính phủ Trung Quốc trước khi xuất khẩu các sản phẩm và thiết bị có chứa dù chỉ một lượng nhỏ đất hiếm có nguồn gốc từ Trung Quốc. Các hạn chế này có nét tương đồng đáng kinh ngạc với các biện pháp kiểm soát bán dẫn của Mỹ và quy tắc sản phẩm trực tiếp nước ngoài, vốn mở rộng các hạn chế xuất khẩu của Mỹ sang bất kỳ sản phẩm nào được sản xuất ở nước ngoài bằng công nghệ Mỹ. Trung Quốc từng đặt ra các hạn chế đối với các nguyên tố đất hiếm trước đây, nhưng những quy định mới này mang tính sâu rộng nhất từ trước đến nay, nhắm vào toàn bộ chuỗi cung ứng toàn cầu và siết chặt gọng kìm của Bắc Kinh đối với một lĩnh vực mà các công ty khai thác, tinh chế, và sản xuất của Trung Quốc vốn đã thống trị.
Việc sử dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu không đại diện cho một sự thay đổi toàn diện trong chiến lược cưỡng ép của Trung Quốc. Các lệnh trừng phạt này vẫn có phạm vi tương đối hạn chế – Bắc Kinh triển khai chúng chủ yếu để phản ứng lại các mức thuế quan và kiểm soát xuất khẩu của chính Washington, hoặc để trừng phạt các quốc gia khác vì ủng hộ Đài Loan. Và các lệnh trừng phạt vẫn giữ những “đặc sắc Trung Quốc”: Bắc Kinh thường tạo ra sự mơ hồ và linh hoạt để làm mờ nhận thức về ý định của mình và tạo ra một lối thoát nhằm giảm leo thang, như cách họ đã làm khi thắt chặt rồi nới lỏng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đất hiếm trong vài tháng qua, tạo ra sự bất định cũng như sự sốt sắng giữa các quốc gia bị nhắm mục tiêu để cố gắng đàm phán gỡ bỏ trừng phạt. Trung Quốc cũng không từ bỏ thói quen phủ nhận sự tham gia của nhà nước trong các hành vi cưỡng ép. Sau khi Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi tuyên bố vào tháng 11 rằng Nhật Bản có thể phản ứng quân sự đối với việc Trung Quốc sử dụng vũ lực ở Đài Loan, Bắc Kinh đã đưa ra các khuyến cáo du lịch cho công dân Trung Quốc đi đến Nhật Bản, với lý do bề ngoài là lo ngại về an toàn, đồng thời khôi phục lệnh cấm nhập khẩu hải sản Nhật Bản, viện dẫn lý do nhiễm bẩn.
Ngoài việc mài sắc một số “cây gậy” – đặc biệt là những cây gậy dùng để chống lại Mỹ và các đối tác thân cận của nước này – Trung Quốc đang đưa ra nhiều “củ cà rốt” hơn, làm mới chiến dịch ngoại giao quyến rũ nhắm vào phần lớn phần còn lại của thế giới. Khi làm như vậy, họ đang nắm bắt một cơ hội được chính quyền Trump trao tận tay: với việc Mỹ thực hiện một cách tiếp cận can dự kinh tế mang tính tư lợi trắng trợn, ưu tiên đầu tư vào các ngành khai thác tài nguyên trong khi cắt giảm các dự án phát triển và nhân đạo, thì Trung Quốc đang cố gắng thể hiện mình là một người chơi toàn cầu hỗ trợ và hợp tác.
Ví dụ, trong các cuộc họp của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào tháng 9, Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường đã có một bài phát biểu khác ca ngợi Sáng kiến Phát triển Toàn cầu (GDI), được giới thiệu vào năm 2021. Ông gắn kết GDI với nhiều chương trình tài trợ do Trung Quốc dẫn đầu và các nỗ lực hợp tác nhằm mở rộng việc áp dụng trí tuệ nhân tạo và tăng cường tiếp cận năng lượng sạch, đặc biệt là ở các nước phương Nam toàn cầu. Bắc Kinh mô tả GDI như một phương tiện để đạt được các Mục tiêu Phát triển Bền vững năm 2030 của Liên Hiệp Quốc và lồng ghép dự án này vào chính Liên Hiệp Quốc, mang lại cho nó tính chính danh và mức độ nhận diện quốc tế lớn hơn – đồng thời mở rộng tính chính danh đó sang nhiều hoạt động kinh tế ở nước ngoài của Trung Quốc, bao gồm các dự án hạ tầng kỹ thuật số và xanh “nhỏ mà đẹp.” Sự chú trọng vào các dự án hợp tác quy mô nhỏ hơn là một phần trong nỗ lực của Bắc Kinh trong vài năm qua nhằm tái định vị và điều chỉnh Sáng kiến Vành đai và Con đường, chương trình hạ tầng toàn cầu đầy tham vọng mà Trung Quốc đã khởi động hơn một thập kỷ trước, sau khi vấp phải sự phản đối ở các nước đối tác về vấn đề tham nhũng và các dự án bị đội giá.
Sức mạnh kinh tế của Trung Quốc đang khiến các đề nghị của họ trở nên khó cưỡng lại đối với các quốc gia khác. Đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược như xe điện và khoáng sản quan trọng, các công ty Trung Quốc – thường được hỗ trợ bởi trợ cấp nhà nước và chuỗi cung ứng nội địa tích hợp theo chiều dọc – đã vượt mặt các công ty nước ngoài, tạo cho họ chỗ đứng thống trị ở nước ngoài. Ví dụ, Huawei đã trở thành nhà cung cấp được lựa chọn cho hạ tầng viễn thông ở nhiều nước đang phát triển. Chính các chính phủ nước ngoài cũng chào đón nguồn vốn đầu tư và tài chính sẵn có của Trung Quốc như một phương tiện để hiện thực hóa các tham vọng kinh tế trong nước và tiến lên trong chuỗi giá trị. Thái Lan, từ lâu là quốc gia dẫn đầu khu vực về sản xuất xe hơi, đã bắt đầu cung cấp các khoản trợ cấp và giảm thuế vào năm 2022 nhằm thu hút các nhà sản xuất xe điện Trung Quốc; gần đây hơn, họ đã đảm bảo được hơn 1 tỷ đô la đầu tư từ BYD và Changan Automobile cho hai nhà máy mới. Vấp phải sự cạnh tranh ngày càng tăng từ các công ty Trung Quốc, trong năm 2024 và 2025, các nhà sản xuất xe hơi Nhật Bản đã phải đóng cửa bốn nhà máy hoạt động lâu năm tại Thái Lan.
Kết quả của việc Trung Quốc gia tăng tiếp cận trong vài thập kỷ qua là nhiều quốc gia đã gắn kết sâu hơn vào các chuỗi cung ứng do Trung Quốc dẫn đầu. Họ bị khóa chặt vào việc làm việc với Trung Quốc, ngay cả khi họ từng sẵn sàng đón nhận các lựa chọn khác. Ví dụ, Indonesia tuyên bố cởi mở với tất cả các nhà đầu tư, nhưng trên thực tế, Trung Quốc thống trị ngành khai thác và chế biến niken của nước này. (Indonesia là nhà sản xuất lớn nhất thế giới về niken, nguyên liệu được sử dụng trong pin xe điện.) Sự thống trị này không phải là ngẫu nhiên. Để đáp lại một loạt các chính sách của Indonesia nhằm thúc đẩy chế biến nội địa có giá trị gia tăng, bao gồm luật khai khoáng năm 2009 yêu cầu thoái vốn nước ngoài để đảm bảo quyền sở hữu đa số trong nước đối với các liên doanh khai thác, cũng như lệnh cấm xuất khẩu quặng niken năm 2020, các công ty khai thác của Mỹ, Australia, châu Âu, và Nhật Bản đã bán tài sản và hủy bỏ các kế hoạch nhà máy. Trong khi đó, các công ty Trung Quốc lại chi các khoản đầu tư lớn vào ngành công nghiệp niken của Indonesia, bao gồm xây dựng các khu công nghiệp và cơ sở luyện kim. Theo Chỉ số Theo dõi Đầu tư Toàn cầu Trung Quốc của Viện Doanh nghiệp Mỹ, Indonesia đã trở thành một trong những nước nhận đầu tư hàng đầu của Trung Quốc trong vài năm qua. Dù công dân Indonesia đã tỏ ra bất bình trước điều kiện làm việc và thiệt hại môi trường từ các cơ sở của Trung Quốc, họ không có sự thay thế khả thi nào: sự hiện diện của Trung Quốc ở nước này đã quá lớn. Hơn nữa, mức độ hiện diện này đảm bảo rằng Trung Quốc sẽ vẫn là một tay chơi thống trị trong các ngành công nghiệp liên quan khi Indonesia tìm cách tiến lên trong chuỗi giá trị sản xuất pin xe điện.
Quan hệ êm ấm giữa nhà nước và doanh nghiệp có thể củng cố thêm ảnh hưởng của Trung Quốc. Nhiều thành viên tầng lớp tinh hoa Indonesia, bao gồm một số nhân vật chịu trách nhiệm đưa ra các quyết định chính sách kinh tế và đối ngoại quan trọng, có cổ phần tài chính trong các lĩnh vực khai thác và chế biến của đất nước và do đó thu được lợi ích cá nhân từ việc đầu tư vào các ngành này. Vì thế, các nhà lãnh đạo Indonesia thể hiện một mức độ quy phục chính trị đối với Bắc Kinh, bất chấp làn sóng tâm lý bài Trung sâu sắc ở nước này. Trong khi Indonesia, quốc gia có đa số dân theo đạo Hồi đông nhất thế giới, đã ủng hộ việc thành lập nhà nước Palestine và lên tiếng về thảm họa nhân đạo ở Gaza, thì họ (cùng với một số quốc gia đa số Hồi giáo khác) đã bỏ phiếu chống lại việc thảo luận về các hành vi ngược đãi người Duy Ngô Nhĩ Hồi giáo của Trung Quốc tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc vào năm 2022. Các doanh nghiệp Indonesia vẫn tiếp tục củng cố quan hệ thương mại với Tân Cương, bao gồm thông qua hợp tác với Binh đoàn Sản xuất và Xây dựng Tân Cương, một tổ chức bán quân sự thuộc sở hữu nhà nước bị Mỹ, EU, và Canada trừng phạt vì vai trò bị cáo buộc của họ trong các vụ vi phạm nhân quyền.
NHỮNG TRỞ NGẠI PHÍA TRƯỚC
Dù vậy, con đường dẫn đến ảnh hưởng kinh tế lớn hơn của Trung Quốc không phải là không có chướng ngại vật. Nhiều quốc gia vẫn lo ngại về dòng hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc đổ vào thị trường của họ, một vấn đề bắt đầu từ giữa những năm 2010 nhưng đã trở nên tồi tệ hơn khi thuế quan của Mỹ buộc Trung Quốc phải chuyển hướng hàng hóa vốn dĩ dành cho Mỹ sang nơi khác, góp phần vào thặng dư thương mại kỷ lục của nước này vào năm ngoái. Bắc Kinh đang hy vọng rằng khối lượng xuất khẩu lớn – trải dài từ dệt may, hàng tiêu dùng nhỏ, cho đến xe điện – sẽ vực dậy nền kinh tế đang chững lại và bù đắp cho mức tiêu dùng nội địa thấp. Nhưng đối với các quốc gia đang tìm cách xây dựng năng lực sản xuất của riêng mình, những hàng hóa giá rẻ này của Trung Quốc đe dọa chèn ép các ngành công nghiệp non trẻ. Các chính phủ trên khắp thế giới có thể háo hức với thương mại và đầu tư từ Trung Quốc, nhưng họ không muốn chỉ nhập khẩu sản phẩm Trung Quốc. Nhiều nước đã ban hành các chính sách để bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước và ưu tiên đầu tư hỗ trợ sản xuất địa phương, tạo việc làm và tạo ra tăng trưởng giá trị gia tăng.
Ví dụ, tại Brazil, doanh số xe điện và xe lai (hybrid) của Trung Quốc đã tăng vọt trong vài năm qua. Nhập khẩu tăng gần 100.000 xe trong khoảng thời gian từ năm 2023 đến 2024, khi tổng lượng nhập khẩu đạt 138.000 xe; các nhà sản xuất xe hơi Trung Quốc chiếm 89% lượng xe điện bán ra tại Brazil trong nửa đầu năm 2024. Không ngạc nhiên khi các nhà sản xuất xe hơi trong nước tại Brazil đã phản kháng bằng cách ủy quyền thực hiện một nghiên cứu chống bán phá giá và vận động chính phủ nước này xóa bỏ các ưu đãi thuế quan cho các công ty Trung Quốc. Đáp lại, chính phủ Brazil đã tăng dần thuế quan đối với xe điện nhập khẩu kể từ năm 2024. Tuy nhiên, vào tháng 10, công ty Trung Quốc BYD đã mở một nhà máy trị giá 1 tỷ đô la – cơ sở lớn nhất của họ bên ngoài châu Á – tại bang Bahia phía đông bắc Brazil, ngay trên địa điểm của một nhà máy Ford đã đóng cửa. Các nhà sản xuất xe hơi Trung Quốc khác cũng đang tăng cường lắp ráp tại Brazil.
Những khoản đầu tư như vậy phải đối mặt với sự giám sát về việc liệu chúng có thực sự tạo ra tăng trưởng giá trị cao hay không, vì các linh kiện vẫn được lấy từ Trung Quốc, và về các vi phạm pháp luật. Ví dụ, nhà máy BYD mới mở tại Bahia là chủ đề của một cuộc tranh cãi lớn tại Brazil. Việc xây dựng đã bị tạm dừng vào cuối năm 2024 sau khi các thanh tra viên Brazil phát hiện các lao động Trung Quốc phải làm việc trong môi trường “xuống cấp,” và các công tố viên Brazil hiện đang kiện BYD vì tạo ra điều kiện làm việc “như nô lệ.” Phản ứng tại địa phương rất quan trọng đối với sự thành công của các khoản đầu tư và dự án kinh tế của Trung Quốc. Nếu các công ty Trung Quốc sẵn sàng giải quyết các quan ngại của địa phương, sẽ dễ dàng hơn cho họ trong việc mở rộng dấu ấn kinh tế của mình tại Brazil và những nơi khác. Và họ sẽ có thể giữ cho nhiều quốc gia tiếp tục gắn kết vào các chuỗi cung ứng của Trung Quốc – ngay cả khi Washington đang thúc đẩy chính các quốc gia đó tham gia vào các chuỗi sản xuất toàn cầu loại trừ các công ty và nhà cung cấp Trung Quốc. Tất nhiên, áp lực của Mỹ đôi khi vẫn sẽ có tác dụng. Mexico – khách hàng mua xe hơi lớn nhất của Trung Quốc nhưng có nền kinh tế tổng thể gắn bó chặt chẽ với nền kinh tế Mỹ hơn là với Trung Quốc – đã từ chối kế hoạch xây dựng nhà máy của BYD và áp thuế 50% đối với xe hơi Trung Quốc, có hiệu lực từ tháng này, như một phần của chính sách tăng cường sản xuất trong nước.
Tuy nhiên, trong các trường hợp khác, thuế quan của Trump đã tạo điều kiện cho Trung Quốc xâm nhập vào các đối tác của Mỹ – đôi khi bằng cách kích động nước này chống lại nước kia. Khi Canada theo chân Mỹ áp thuế 100% đối với xe điện Trung Quốc, Bắc Kinh đã áp thuế trả đũa đối với dầu hạt cải của Canada và chuyển sang các nhà cung cấp Australia, những người đã bị cấm khỏi thị trường Trung Quốc từ năm 2020 với lý do bề ngoài là vi phạm y tế. Canada đã phản ứng bằng các nỗ lực tiếp cận cấp cao với Trung Quốc, một sự thay đổi đáng chú ý sau vài năm quan hệ ngoại giao căng thẳng. Thủ tướng Canada gợi ý rằng các mức thuế trừng phạt của Mỹ là một phần nguyên nhân. Trong chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 1, Trung Quốc đã đồng ý hạ thuế đối với các sản phẩm cải dầu của Canada; đổi lại, Canada đồng ý cho phép nhập khẩu xe điện Trung Quốc. Các chiến thuật bắt nạt tiếp theo từ Washington sẽ chỉ đẩy Canada và các quốc gia khác đến gần Bắc Kinh hơn. Chúng chắc chắn làm suy yếu bất kỳ nỗ lực nào của Mỹ nhằm phối hợp với các đồng minh để chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc. Mỹ đã phải gây áp lực rất lâu mới lôi kéo được các đối tác tham gia vào các biện pháp kiểm soát xuất khẩu bán dẫn và thuyết phục các quốc gia như Anh loại bỏ công ty Trung Quốc Huawei khỏi mạng 5G. Các chính sách thất thường sẽ làm cho những lời kêu gọi như vậy của Mỹ trở nên kém thuyết phục hơn.
VẬY LÀ ĐỦ
Hiện tại, Trung Quốc đang vui vẻ tận dụng cơ hội mà Mỹ đã tạo ra để mở rộng phạm vi kinh tế của mình. Trong lúc thuế quan của Mỹ khiến Bắc Kinh trông giống một đối tác thương mại đáng tin cậy hơn Washington, Trung Quốc cũng đang theo đuổi các thỏa thuận mới: vào tháng 10, họ đã ký một bản nâng cấp cho hiệp định thương mại tự do với các thành viên của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), được thiết kế để mở rộng hợp tác trong hạ tầng kỹ thuật số, phát triển xanh, và kết nối chuỗi cung ứng. Và khi mức độ thiện cảm toàn cầu đối với Mỹ suy giảm – một cuộc thăm dò 32 quốc gia của tờ Economist vào năm 2025 cho thấy sự ưu ái dành cho Mỹ với tư cách là cường quốc hàng đầu thế giới đã giảm từ 59% xuống 46% so với năm trước, trong khi sự ưu ái dành cho Trung Quốc tăng lên 33%, tăng 11% (bao gồm mức tăng khoảng 20% ở Brazil, Canada, và Indonesia) – nỗi sợ sự ép buộc của Trung Quốc có khả năng sẽ giảm bớt và sự háo hức chấp nhận các đề nghị của Trung Quốc sẽ tăng lên. Một lợi thế khác, hơn hẳn Mỹ, Trung Quốc rất giỏi trong việc kết hợp sách lược kinh tế với tuyên truyền và ngoại giao công chúng. Bắc Kinh nhanh chóng nhận công lao cho các khoản đầu tư thành công, thường cử đại sứ đến tham dự lễ cắt băng khánh thành hoặc viết các bài xã luận trên báo địa phương – theo đó làm cho các quan hệ kinh tế với Trung Quốc có vẻ là không thể thiếu.
Nhiều quốc gia vẫn cần tiếp cận nền kinh tế Mỹ và muốn có sự hiện diện an ninh của Mỹ, như những nỗ lực của họ nhằm đạt được các thỏa thuận về thuế quan với chính quyền Trump đã chứng minh. Hầu hết các chính phủ không ngả hẳn về phía Trung Quốc. Nhiều nước vẫn cảnh giác với sự cưỡng ép leo thang của Trung Quốc, sự hung hăng về chính trị và quân sự của họ, và nguy cơ bị mắc kẹt giữa Washington và Bắc Kinh. Nhưng những lo ngại đó đang bị làm lu mờ bởi chính các chiến thuật cưỡng ép của chính phủ Mỹ.
Điều Trung Quốc làm tốt nhất là gây chia rẽ giữa các quốc gia và trong nội bộ các quốc gia, qua đó làm suy yếu các liên minh do Mỹ dẫn đầu. Ở Đông Nam Á, Trung Quốc đã vun đắp quan hệ với Campuchia, nước hiện đóng vai trò như đại diện của Bắc Kinh để làm suy yếu các phản ứng của khu vực đối với sự xâm lấn của Trung Quốc tại các đảo và các thực thể khác đang tranh chấp ở Biển Đông. Tại châu Âu, Hungary – nơi nhận 44% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc vào EU năm 2023 – đã phủ quyết các tuyên bố của EU nhằm chỉ trích Trung Quốc, tán thành kế hoạch hòa bình của Bắc Kinh cho Ukraine, và thiết lập quan hệ đối tác an ninh với Trung Quốc. Các quan hệ kinh tế của Bắc Kinh không tạo thành một khối do Trung Quốc dẫn đầu. Nhưng sức hấp dẫn từ thị trường và nguồn vốn của họ có thể là đủ – và trong một số trường hợp đã là đủ – để mua sự im lặng về các vấn đề mà Trung Quốc quan tâm, bao gồm các tranh chấp lãnh thổ hoặc vi phạm nhân quyền ở Tân Cương. Nó thậm chí có thể đủ để làm giảm phản ứng của thế giới đối với một cuộc xâm lược Đài Loan. Suy cho cùng, việc Trung Quốc sẵn sàng sử dụng cả “cây gậy và củ cà rốt” khuyến khích các quốc gia khác tránh đối đầu và để mặc Bắc Kinh theo đuổi lợi ích của mình với sự tự do tương đối – trong lúc Mỹ ngày càng chật vật để tập hợp thế giới cùng đẩy lùi Trung Quốc.
Audrye Wong là nghiên cứu viên cấp cao không thường trú tại Viện Doanh nghiệp Mỹ và là tác giả của cuốn sách sắp xuất bản Subversion and Seduction: China’s Economic Statecraft.
